Chim xanh: a revisit
Phần lớn trong số chúng ta sẽ sống những cuộc đời bình lặng. Ta không có câu chuyện gì trong đời đáng để viết thành truyện, vì nói thẳng ra là cuộc sống của ta không có gì hấp dẫn, hơn nữa bản thân chúng ta cũng không cố gắng tìm kiếm một cuộc phiêu lưu.
Cho nên, thật dễ để khiến ta chìm vào phông nền phía sau và trở thành một trong vô vàn những nhân vật quần chúng chỉ xuất hiện trong một hai cảnh không ai nhớ tới. Nếu có kẻ nào dám viết một cuốn tiểu thuyết về cuộc đời ấy, đó ắt sẽ là câu chuyện nhàm chán nhất mọi thời đại.
Và đó chính là câu chuyện của Liz và chú chim xanh (リズと青い鳥 hay Liz to Aoi Tori), một bộ phim spinoff kể về hai nhân vật phụ mà series phim chính không dành quá nhiều sự quan tâm tới cuộc đấu tranh nho nhỏ trong cuộc sống của họ. Một câu chuyện tẻ nhạt và không lôi cuốn. Ai xem bộ phim này cũng phải cố nén một cái ngáp dài.
Nhưng nó cũng là một câu chuyện đẹp về hai nhân vật bị bỏ quên, và chút khó khăn nhỏ trong cuộc sống của họ. Một chuyện tình không có gì lớn lao hay kịch tính. Nhưng, có gì đó đặc biệt ở cách tiếp cận ấy khiến nó trở nên thật và gần gũi hơn đối với tôi.
Nó là kiểu phim nhắc cho tôi nhớ vì sao mình lại yêu thích văn hóa phẩm Nhật.
Mizore muốn giấu kín lòng mình với tất thảy mọi người, chỉ trừ cây oboe của mình. Ngoài Nozomi ra, chẳng ai biết cách nói chuyện với Mizore. Có điều, Mizore nhìn nhận mối quan hệ của họ sâu đậm hơn: rằng cô lệ thuộc vào Nozomi. Thiếu đi Nozomi, có lẽ cô đã không bao giờ chơi oboe, và không bao giờ tìm được nơi mình thuộc về trên đời này.
Và thế giới ấy của Mizore đã từng rung chuyển khi đã có lúc Nozomi rời khỏi câu lạc bộ nhạc cụ khí. Nozomi rốt cuộc cũng quay lại, nhưng Mizore vẫn chưa hoàn toàn nguôi ngoai. Trong lòng cô đầy ắp những cảm xúc — bối rối, xung đột, và đắm say — khi Nozomi bước khỏi tương lai của mình. Cô yêu Nozomi, kể cả khi cô biết Nozomi có thể làm tổn thương mình. Một thế giới thiếu Nozomi là một nơi không đáng sống, nhưng cô chẳng thể bày tỏ điều đó, và kéo cả hai người họ vào vũng lầy. Tất cả những gì Mizore biết làm khi Nozomi tỏ ra xa cách với mình, chỉ là lấy tay vuốt vuốt tóc để tìm kiếm một phản ứng nào đó từ Nozomi.
Cầu nối giao tiếp cuối cùng còn lại giữa hai người họ là bản nhạc lấy cảm hứng từ cuốn truyện thiếu nhi Liz und ein blauer Vogel. Khi biết đây là câu chuyện yêu thích của Nozomi, Mizore cố gắng tìm cách thấu hiểu được nó, và biết đâu đấy, là hiểu được cả Nozomi.
Liz, một cô gái sống cô đơn, gặp một cô bé tóc màu xanh lam, giống như chú chim xanh cô từng cho ăn. Họ cùng nhau trải qua những niềm vui, và rồi Liz cảm thấy cuộc đời mình thôi u ám. Lần đầu tiên trong đời, cô cảm thấy hạnh phúc.
Nhưng Mizore không thể đồng cảm được với hai nhân vật ở phần kết của cuốn sách. Cô không hiểu vì sao Liz phải buông tay và để chú chim bay đi, dù cô cần nó trong đời.
Thật là bất công.
Khó để giải thích với hầu hết mọi người điểm hấp dẫn của Liz và chú chim xanh, khi mà hai nhân vật chính thì trơ như tượng, còn câu chuyện của họ lại nằm ở một trong những phân khúc yếu nhất của toàn bộ series Euphonium. Bản thân bộ phim cũng không tuân theo “quy tắc” của các nhà làm phim Hollywood: phim rất ít thoại, và để cho những cảnh phim nhạt nhòa tự diễn ra mà hầu như không có thêm ngay cả một câu đùa.
Đáng lý ra, đây không thể là một bộ phim hay dựa theo tiêu chí của đa số người xem. Nếu chẳng may phim có cập bến bờ kia biển Nhật Bản (TN: blog được viết trước khi phim được chiếu ở các thị trường nước ngoài), nhiều người có lẽ sẽ cảm thấy đây là một sự thất vọng đến từ Naoko Yamada, đạo diễn từng mang tới cho chúng ta Tamako Love Story — bộ phim sử dụng tình yêu làm phương tiện để khám phá những câu chuyện tuổi mới lớn — và Koe no Katachi — một bữa tiệc thịnh soạn cho thị giác mà ở đấy những thử nghiệm với những điều khán giả thường mong đợi ở thể loại tình cảm được khéo léo điều khiển để kể một câu chuyện lớn lao hơn. So với chúng, Liz và chú chim xanh nhạt nhòa hơn và không chạm tới cùng tầm cao.
Nhưng có gì đó trong sự tĩnh lặng của nó vượt trên cả những “quy tắc” của phép kể chuyện bằng hình ảnh thông thường; nó tuân theo “quy tắc” riêng mà Mizore áp đặt lên cuộc đời nhỏ của cô. Mizore không phải Kumiko, Tamako, hay Shouya, bởi cô thiếu đi tính cách cho phép cô tiệm cận, chứ chưa nói tới việc trở thành một nhân vật chính thông thường. Bởi vậy, cô giao tiếp thông qua những cử chỉ và sự im lặng. Mizore mang tới nhiều biểu cảm và sự tinh tế hơn bất cứ nhân vật chính tích cực nào có thể bộc lộ.
Lời kể “im lặng” của Mizore càng ấn định thêm bầu không khí cho những cảnh phim vốn đã chất chứa sự căng thẳng giữa cô và Nozomi. Điều ấy khiến chúng ta càng nhận thức rõ hơn sự trống rỗng của không gian rộng lớn này. Trong hầu hết những cảnh phim ấy, Mizore không có gì để nói, nhưng sự hiện diện của cô — dẫu rằng vụng về — luôn rõ ràng và khơi gợi sự đồng cảm của người xem.
Bởi vì Mizore cũng chính là mỗi chúng ta — một người bình thường, mong muốn rằng tiếng nói của mình được lắng nghe.
Tôi thích văn hóa phẩm Nhật Bản không phải bởi những cảnh quay sakuga hào nhoáng, hay bởi những ý tưởng lớn độc đáo, mà bởi cách nó khắc họa cuộc sống một cách tỉ mỉ. Đúng là tôi có thích những tác phẩm hư cấu xa vời, nhưng tôi thích những câu chuyện gắn liền với thực tế hơn. Chúng nhắc ta rằng mình có thể để những tham vọng lớn lao, những chuyển mình của lịch sử chìm vào bức nền phía sau; rằng ta đang sống trong thực tại, chứ không phải tương lai hay quá khứ. Bất cứ thứ gì liên quan tới hiện tại chắc chắn sẽ trở nên thật hơn, như một thứ ta có thể chạm vào.
Nhưng khi một bộ phim như Liz và chú chim xanh được công chiếu, tôi lại giật mình nhận ra khái niệm về thực tại trong những tác phẩm hư cấu của mình thiếu sót đến mức nào.
Lặng lẽ và trống vắng. Đáng lẽ ra nó không thể cộng hưởng như vậy trong lòng tôi. Một bộ phim không hẳn là phim về hai nhân vật hư cấu, mà là một kí sự có thật về hai cô nữ sinh yêu nhau, vụng về và ngượng nghịu.
Một bộ phim có lẽ không phải dành cho mọi người. Mang trong mình những nốt suy tưởng tĩnh lặng và duy ngã thường thấy trong văn học Nhật, Liz và chú chim xanh đôi lúc tỏ ra khó gần và khó tiếp cận tới khán giả đại chúng. Nó lan man và tập trung vào những sự việc, những tương tác tưởng chừng không quan trọng, chẳng hề ăn nhập với nhau. Những sự trồi sụt trong nhịp phim đến từ sự bị động hoàn toàn của Mizore càng không cải thiện thêm điều gì. Nhưng nếu bạn kiên nhẫn, bạn sẽ nhận ra rằng trong mỗi khung hình đều thấm đẫm một nguồn nội lực cảm xúc chỉ trực chờ được tuôn trào bên trong Mizore, và trong cả người xem.
Đó mới là niềm vỡ òa mà tôi mong chờ ở văn hóa Nhật Bản. Không phải một màn biểu diễn ấn tượng, hay cơn nấc nghẹn sụt sùi. Chỉ là một tiếng thở phào nhẹ nhõm, và có lẽ là một giọt nước mắt khẽ rơi. Một khoảnh khắc khoan khoái để nhắc ta rằng cảm quan về một thực tại tầm thường của chúng ta vẫn là một cái gì đó đáng sống. Một khoảnh khắc thoáng qua mà ta có thể dễ dàng quên rằng nó đã từng tồn tại. Ngay từ đầu nó đã không có tham vọng để lại cho chúng ta một dấu ấn sâu đậm, bởi lẽ nó tự coi mình là một bộ phim bình thường. Một bộ phim mộc mạc thường ngày, nó chọn cách nương theo chính bản chất thoáng qua của mình. Đây chính là hồn cốt của những gì tôi yêu ở văn hóa Nhật, dưới vỏ bọc của một bộ phim đẹp đẽ về hai cô gái bình thường cố gắng để yêu nhau.
Một bộ phim như vậy chỉ có thể được gọi là không hấp dẫn và dễ quên.
Một bộ phim như vậy chỉ có thể được gọi là một tuyệt tác nho nhỏ.
Comments
Post a Comment